Kết hôn giả là việc đăng ký kết hôn nhằm có được thứ mà hôn nhân mở ra, thường là thị thực, thẻ cư trú, việc nhập quốc tịch hay một lợi ích khác gắn với tình trạng đã kết hôn, chứ không nhằm xây dựng một cuộc sống chung. Pháp luật Việt Nam coi đó là hành vi trái pháp luật, kể cả khi đám cưới có thật, giấy chứng nhận là thật và hai người có thể đưa ra ảnh cưới cùng hồ sơ đăng ký. Điều làm nên một cuộc hôn nhân giả là mục đích phía sau nó. Giấy tờ có thể hoàn hảo mà cuộc hôn nhân vẫn trái pháp luật.
Quy định này ảnh hưởng tới hai nhóm người rất khác nhau. Một số đang cân nhắc một cuộc hôn nhân vì lợi ích và muốn biết mình đang tự đặt vào rủi ro gì. Số khác đang trong một mối quan hệ xuyên biên giới thực sự và lo bị nghi oan đúng điều đó. Cả hai đều chịu sự điều chỉnh của cùng một quy tắc, và ranh giới giữa họ được vạch bằng ý định.
Thế nào là kết hôn giả theo pháp luật Việt Nam
Pháp luật Việt Nam có một thuật ngữ riêng cho việc này. Theo khoản 11 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam hoặc quốc tịch nước ngoài, hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình.
Đặc điểm cốt lõi là không có ý định thực sự chung sống với nhau như vợ chồng. Trong con mắt của pháp luật, một cuộc hôn nhân thật hướng tới đời sống gia đình chung. Kết hôn giả mượn hình thức pháp lý của hôn nhân mà không có đời sống chung lẽ ra phải đi kèm. Hai người có thể đã làm đúng từng bước, hồ sơ không thiếu thứ gì, trừ đúng một thứ mà pháp luật quan tâm nhất: ý định cùng nhau xây dựng gia đình.
Có những điều không khiến một cuộc hôn nhân trở thành hôn nhân giả. Hôn nhân do gia đình sắp đặt không phải là kết hôn giả. Hôn nhân giữa hai người có xuất thân rất khác nhau, hoặc chênh lệch tuổi lớn, hoặc tiến tới nhanh, cũng không phải là kết hôn giả. Một cuộc hôn nhân trong đó một bên mong có được quyền cư trú và thực sự có ý định chung sống cũng không phải là kết hôn giả. Lợi ích có thể tồn tại song song với một mối quan hệ thật. Điều pháp luật nhắm tới là trường hợp lợi ích là toàn bộ mục đích và đời sống gia đình chưa bao giờ được tính đến.
Vì sao kết hôn giả là trái pháp luật dù nhìn bề ngoài vẫn hợp lệ
Việc kết hôn giả tạo bị cấm rõ ràng. Điểm a khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 liệt kê hành vi này trong số các hành vi bị cấm, cùng một điều khoản với cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn và cản trở kết hôn.
Vì vậy, một cuộc hôn nhân giả đứng trên nền đất yếu ngay từ ngày đầu tiên, bất kể hồ sơ đăng ký nhìn sạch sẽ tới đâu. Lệnh cấm gắn vào chính hành vi kết hôn với một mục đích không thật. Giấy chứng nhận không chữa được điều đó. Giấy chứng nhận ghi nhận một cuộc hôn nhân mà pháp luật không cho phép, nghĩa là cuộc hôn nhân ấy có thể bị yêu cầu xem xét và bị hủy chính vì cách thức và lý do nó được xác lập, chứ không phải vì bất kỳ sai sót nào trong nghi thức hay trong giấy tờ.
Hậu quả của việc kết hôn giả
Rủi ro rơi vào nhiều nhóm khác nhau, và chúng thường bị xem nhẹ vì sự sắp đặt có vẻ an toàn chừng nào các bên còn hợp tác với nhau. Rủi ro thường lộ ra về sau, khi có điều gì đó thay đổi, chẳng hạn hai bên trở mặt, tới kỳ gia hạn cư trú, hoặc khi cơ quan nhà nước rà soát hồ sơ.
- Hôn nhân có thể bị hủy. Vì kết hôn giả tạo là hôn nhân bị cấm, tòa án có thể tuyên bố cuộc hôn nhân đó trái pháp luật. Hủy việc kết hôn trái pháp luật coi cuộc hôn nhân là không có giá trị ngay từ đầu, chứ không phải chấm dứt một cuộc hôn nhân hợp lệ, và điều đó kéo theo hệ quả riêng về tài sản và nhân thân. Nội dung này được trình bày đầy đủ trong bài viết về hủy việc kết hôn trái pháp luật tại Việt Nam.
- Phạt vi phạm hành chính. Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú hoặc nhập quốc tịch Việt Nam bị xử phạt tiền theo Điều 59 Nghị định 82/2020, kèm theo biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi đó. Cả người hưởng lợi lẫn người đứng ra sắp xếp hoặc môi giới cuộc hôn nhân đều có thể bị xử lý.
- Mất chính lợi ích đã thúc đẩy việc kết hôn. Thị thực, thẻ cư trú hay tư cách có được thông qua cuộc hôn nhân đều dựa trên một cuộc hôn nhân có thể bị hủy. Nếu cuộc hôn nhân đổ, lợi ích dựng trên đó có nguy cơ bị thu hồi, khiến một người nước ngoài có thể mất tư cách cư trú hợp pháp và đối mặt với việc bị buộc rời khỏi Việt Nam.
- Hậu quả ở quốc gia khác. Khi cuộc hôn nhân được dùng để hưởng lợi ích về di trú ở nước ngoài, pháp luật của chính nước đó cũng áp dụng, và nhiều nước coi gian lận hôn nhân là một hành vi vi phạm pháp luật di trú nghiêm trọng, với chế tài nặng hơn nhiều so với mức phạt tại Việt Nam, bao gồm cấm nhập cảnh về sau và, ở một số nước, truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức. Cán bộ, công chức, viên chức kết hôn giả tạo hoặc tiếp tay cho việc đó có thể bị xử lý kỷ luật theo quy định về cán bộ, công chức, viên chức (Nghị định 112/2020), bên cạnh các trách nhiệm pháp lý khác.
Gộp lại, những điều này cho thấy sự sắp đặt đó hiếm khi là lối tắt gọn gàng như người ta vẫn giới thiệu. Nó tạo ra một điểm yếu pháp lý nằm bên dưới mọi thứ được dựng lên trên đó, và trao cho mỗi bên một thứ để nắm giữ bên kia chừng nào cuộc hôn nhân còn tồn tại.
Trường hợp không biết đó là một cuộc hôn nhân giả
Không phải cuộc hôn nhân giả nào cũng có hai người tự nguyện. Có trường hợp một bên kết hôn với lòng thành, thực sự tin vào mối quan hệ, trong khi bên kia ngay từ đầu chỉ nhắm tới thị thực, thẻ cư trú hay một lợi ích khác. Pháp luật Việt Nam đối xử rất khác với hai người này. Người bị lừa dối là nạn nhân của hành vi gian dối chứ không phải người thực hiện hành vi đó, và các chế tài nêu trên nhắm vào người lợi dụng cuộc hôn nhân cùng những ai sắp đặt nó, không nhắm vào người bạn đời bị lừa.
Pháp luật cũng trao cho người bị lừa dối một biện pháp bảo vệ trực tiếp. Theo Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, người bị cưỡng ép kết hôn hoặc bị lừa dối kết hôn có quyền tự mình yêu cầu tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật, hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức được luật quy định yêu cầu thay cho mình. Căn cứ là sự tự nguyện khi kết hôn chưa bao giờ thực sự có, mà đây lại là một trong những điều kiện cơ bản của một cuộc hôn nhân hợp lệ.
Khi việc kết hôn bị hủy, cuộc hôn nhân được coi như chưa từng có giá trị pháp lý (Điều 12). Trường hợp có con chung hoặc tài sản chung, tòa án giải quyết những vấn đề đó với sự quan tâm đặc biệt tới quyền và lợi ích hợp pháp của người bị lừa dối và của con, để bên ngay tình không phải chịu thiệt vì đã bị lừa.
Nếu có nghi ngờ mình bị kéo vào một cuộc hôn nhân mà người bạn đời chưa từng coi là thật, chẳng hạn khi họ mất hẳn hứng thú với đời sống chung ngay khi giấy chứng nhận được cấp và chỉ thúc ép việc bảo lãnh di trú, bước đi thực tế là tìm tư vấn sớm và giữ lại những gì cho thấy mình đã tin cuộc hôn nhân là thật. Vị trí pháp lý được làm rõ càng sớm thì việc bảo vệ tư cách cư trú, tài sản và con cái càng dễ.
Hôn nhân giả bị phát hiện bằng cách nào
Cơ quan nhà nước không chỉ dựa vào giấy tờ. Khi có yếu tố nước ngoài, bản thân thủ tục đăng ký đã được thiết kế để kiểm tra xem cuộc hôn nhân có thật hay không, rõ nhất là qua buổi phỏng vấn kết hôn, nơi hai người có thể được hỏi riêng về mối quan hệ, cách họ gặp nhau, cuộc sống chung và những thông tin cơ bản về nhau. Câu trả lời không khớp, việc không thể giao tiếp bằng bất kỳ ngôn ngữ chung nào, hay sự thiếu hiểu biết rõ ràng về nhau là những tín hiệu dẫn tới việc xem xét kỹ hơn và có thể khiến hồ sơ đăng ký bị từ chối.
Nghi ngờ cũng có thể nảy sinh về sau, tại kỳ gia hạn cư trú, trong một đợt rà soát hồ sơ di trú, hoặc khi một bên tố giác bên kia sau khi quan hệ giữa họ đổ vỡ. Một cuộc hôn nhân vốn không thật sẽ khó bảo vệ hơn hẳn khi một trong hai người đã có lý do để nói ra sự thật về nó.
Điều này có ý nghĩa gì với các cặp đôi xuyên biên giới thực sự
Chính sự xem xét kỹ càng giúp phát hiện hôn nhân giả lại có thể gây căng thẳng cho những cặp đôi có quan hệ hoàn toàn thật. Với một mối quan hệ quốc tế thực sự, pháp luật không chống lại các cặp đôi đó, nhưng thủ tục có thể đòi hỏi họ chứng minh cuộc hôn nhân đúng như những gì họ nói.
Cách ứng phó thực tế là chuẩn bị chứ không phải lo lắng. Giữ lại những bằng chứng thông thường về một mối quan hệ thật, trả lời trung thực và nhất quán tại buổi phỏng vấn, và hoàn tất từng bước đăng ký cho đúng thường là đủ để khép lại nghi vấn. Các yêu cầu đối với người nước ngoài kết hôn tại Việt Nam, trong đó có những giấy tờ như giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, được trình bày trong bài viết về kết hôn với người nước ngoài tại Việt Nam. Làm đúng những bước đó ngay từ đầu là cách chắc chắn nhất để một cuộc hôn nhân thật không bị nhìn bằng con mắt nghi ngờ không đáng có.
Cách tránh kết hôn giả và kết hôn hợp pháp tại Việt Nam
Một cuộc hôn nhân vì lợi ích đặt cả hai bên trước nguy cơ bị hủy việc kết hôn, bị phạt tiền, mất tư cách cư trú và, khi có một quốc gia khác liên quan, những hậu quả có thể nặng hơn nhiều so với bất cứ chế tài nào tại Việt Nam. Với một mối quan hệ thật và chỉ mong được công nhận mà không gặp trở ngại, câu trả lời là làm đúng từng bước và sẵn sàng chứng minh cuộc hôn nhân của mình là thật.
Đội ngũ luật sư hôn nhân và gia đình của Family Lawyers Vietnam tư vấn cho cả hai tình huống, từ việc đăng ký đúng cách một cuộc hôn nhân xuyên biên giới thực sự cho tới việc giải quyết một cuộc hôn nhân đang bị đặt dấu hỏi về giá trị pháp lý. Chúng tôi đã đồng hành cùng nhiều người nước ngoài, đến từ rất nhiều quốc gia, trong các vấn đề về hôn nhân và cư trú tại Việt Nam, và có thể giúp làm rõ vị trí pháp lý của từng trường hợp trước khi vấn đề trở nên khó xử lý hơn. Liên hệ với chúng tôi qua [email protected] để được tư vấn bảo mật.