Khi một người qua đời tại Việt Nam mà không để lại di chúc hợp pháp, di sản của họ không đơn giản được chuyển cho người mà họ mong muốn, hay cho người vẫn nghĩ mình sẽ được nhận. Thay vào đó, pháp luật sẽ can thiệp và phân chia di sản theo một thứ tự hàng thừa kế cố định được quy định trong Bộ luật Dân sự. Đây gọi là thừa kế theo pháp luật, và việc hiểu cách thức vận hành của nó có ý nghĩa với hai nhóm rất khác nhau: những gia đình đang giải quyết việc mất đi người thân không để lại di chúc, và những người đang cân nhắc có nên lập di chúc hay không. Bộ phận lập di chúc và hoạch định di sản của chúng tôi tư vấn cho cả hai nhóm.
Khi pháp luật quyết định: thừa kế theo pháp luật
Theo Bộ luật Dân sự 2015, di sản được chia theo pháp luật thay vì theo di chúc trong một số trường hợp: khi không có di chúc, khi di chúc không hợp pháp, khi những người được chỉ định trong di chúc đã chết hoặc từ chối nhận di sản, hoặc khi di chúc chỉ định đoạt một phần di sản. Trong bất kỳ trường hợp nào nêu trên, phần di sản không được định đoạt hợp lệ bằng di chúc sẽ được chia theo quy định về thừa kế theo pháp luật.
Thừa kế theo pháp luật không mang tính tùy nghi. Pháp luật quy định rõ ai được hưởng và theo thứ tự nào, và cả gia đình lẫn tòa án đều không thể tự quyết định phân chia di sản theo cách khác, trừ khi tất cả những người thừa kế hợp pháp cùng thỏa thuận với nhau. Chính vì vậy, việc qua đời mà không để lại di chúc có thể dẫn tới những kết quả mà người đã mất không bao giờ mong muốn.
Ba hàng thừa kế
Pháp luật Việt Nam chia người thừa kế thành ba hàng theo Điều 651 Bộ luật Dân sự. Di sản được chuyển cho hàng thứ nhất. Chỉ khi không có người thừa kế ở hàng thứ nhất thì di sản mới chuyển sang hàng thứ hai, và chỉ khi không có ai ở hàng thứ hai thì mới chuyển sang hàng thứ ba.
Hàng thứ nhất: vợ hoặc chồng còn sống, cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi của người chết, con đẻ và con nuôi của người chết.
Hàng thứ hai: ông bà nội và ông bà ngoại của người chết, anh chị em ruột của người chết, và cháu ruột của người chết trong trường hợp người chết là ông bà.
Hàng thứ ba: cụ nội và cụ ngoại của người chết, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột mà người chết là bác, chú, cậu, cô, dì, và chắt ruột của người chết.
Trong cùng một hàng, tất cả những người thừa kế được hưởng phần bằng nhau, không phân biệt giới tính, độ tuổi hay hoàn cảnh tài chính. Con gái được hưởng phần bằng con trai. Người cha hoặc mẹ già được hưởng phần bằng đứa con nhỏ.
Một điểm khiến nhiều gia đình bất ngờ: cha mẹ thuộc hàng thừa kế thứ nhất
Một khía cạnh của pháp luật thừa kế Việt Nam thường xuyên khiến nhiều người bất ngờ, đặc biệt là những người đến từ các quốc gia nơi di sản chủ yếu chuyển cho vợ hoặc chồng và các con. Tại Việt Nam, chính cha mẹ của người đã mất cũng thuộc hàng thừa kế thứ nhất, đứng ngang hàng với vợ hoặc chồng và các con.
Trên thực tế, điều này có nghĩa là nếu một người đã lập gia đình và có con qua đời mà không để lại di chúc, di sản không đơn giản được chia giữa người vợ hoặc chồng còn sống và các con. Cha mẹ còn sống của người đã mất cũng được hưởng một phần bằng nhau. Với một người đã lập gia đình, ví dụ có hai con và cha mẹ đều còn sống, hàng thừa kế thứ nhất sẽ gồm năm người, mỗi người được hưởng một phần bằng nhau trong khối di sản chia theo pháp luật. Những gia đình cho rằng người vợ hoặc chồng còn sống và các con sẽ được hưởng toàn bộ thường bất ngờ khi biết cha mẹ của người đã mất cũng có quyền hưởng di sản.
Người vợ hoặc chồng còn sống có được hưởng toàn bộ di sản không
Không đương nhiên, và đây là một trong những hiểu lầm phổ biến nhất. Người vợ hoặc chồng còn sống tại Việt Nam không được hưởng toàn bộ di sản chỉ vì là vợ hoặc chồng. Họ chia di sản bằng nhau với những người thừa kế khác ở hàng thứ nhất, tức là con và cha mẹ của người đã mất. Điều mà người vợ hoặc chồng còn sống giữ trọn vẹn là một nửa tài sản chung của vợ chồng, và đây là vấn đề tách biệt với thừa kế.
Có một bước quan trọng diễn ra trước khi di sản được chia cho những người thừa kế, và bước này thường gây nhầm lẫn. Tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân nhìn chung là tài sản chung của vợ chồng, thuộc sở hữu ngang nhau của cả hai. Khi một người qua đời, một nửa khối tài sản chung đó vốn đã thuộc về người còn sống. Phần đó không nằm trong di sản.
Chỉ một nửa tài sản chung thuộc về người đã mất, cùng với tài sản riêng mà họ sở hữu, mới hợp thành di sản để chia. Sau đó, người vợ hoặc chồng còn sống cũng được hưởng một phần trong khối di sản đó với tư cách người thừa kế hàng thứ nhất. Như vậy, người vợ hoặc chồng còn sống thường giữ trọn một nửa tài sản chung của mình và nhận thêm một phần từ nửa còn lại của người đã mất thông qua thừa kế. Sự tương tác giữa chế độ tài sản của vợ chồng và quy định về thừa kế là một trong những nội dung mà các gia đình cần tư vấn nhiều nhất, và nó liên hệ trực tiếp tới cách các nguyên tắc về ly hôn và phân chia tài sản xác định đâu là tài sản chung và đâu là tài sản riêng.
Ai không được hưởng di sản, kể cả khi thuộc hàng thừa kế thứ nhất
Việc thuộc hàng thừa kế thứ nhất không bảo đảm được hưởng di sản trong mọi trường hợp. Theo Điều 621 Bộ luật Dân sự, một số người không được quyền hưởng di sản, bất kể quan hệ với người đã mất. Nhóm này gồm người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người để lại di sản, người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc có hành vi ngược đãi nghiêm trọng đối với người để lại di sản, và người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản lập di chúc, hoặc giả mạo, sửa chữa, hủy di chúc nhằm hưởng lợi cho mình.
Hệ quả thực tế là một người thân đã xa cách, có hành vi ngược đãi hoặc bỏ mặc nghiêm trọng có thể mất quyền thừa kế mà lẽ ra họ được hưởng. Có một ngoại lệ: nếu người để lại di sản biết về hành vi đó nhưng vẫn quyết định để lại cho người đó một phần trong một di chúc hợp pháp, thì mong muốn ấy được tôn trọng. Nhưng trong một di sản chia theo pháp luật, nơi không có di chúc nào thể hiện lựa chọn đó, người bị tước quyền đơn giản là không được hưởng.
Khi người con đã mất trước: Thừa kế thế vị
Pháp luật Việt Nam dự liệu một tình huống mà nếu không có quy định sẽ tạo ra thiệt thòi. Nếu con của người để lại di sản đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản, thì con của người con đó, tức cháu của người để lại di sản, sẽ thay vào vị trí của cha mẹ mình và hưởng phần di sản mà cha mẹ họ đáng lẽ được hưởng. Đây gọi là thừa kế thế vị, và chế định này chỉ áp dụng cho thừa kế theo pháp luật, không áp dụng cho thừa kế theo di chúc. Quy định này bảo đảm một nhánh của gia đình không bị loại ra chỉ vì thế hệ ở giữa đã mất trước.
Nghĩa vụ tài sản được thanh toán trước
Trước khi phân chia cho những người thừa kế, di sản phải được dùng để thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản còn lại của người đã mất. Người thừa kế không nhận được khối tài sản sạch trong khi chủ nợ của người đã mất không được thanh toán. Phần chuyển cho người thừa kế là phần còn lại sau khi các khoản nợ và nghĩa vụ hợp pháp đã được thực hiện từ di sản. Người thừa kế nhìn chung không phải chịu trách nhiệm cá nhân vượt quá giá trị di sản mà họ nhận, nhưng chính khối di sản phải gánh các khoản nợ trước.
Di sản được phân chia và chuyển giao trên thực tế như thế nào
Khi những người thừa kế thỏa thuận được với nhau, di sản có thể được phân chia mà không cần đưa ra tòa. Những người thừa kế có thể lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản, thường được công chứng hoặc chứng thực tại Ủy ban nhân dân địa phương, sau đó dùng văn bản này để sang tên các tài sản như quyền sử dụng đất hay phương tiện.
Khi những người thừa kế không thỏa thuận được, hoặc khi chính quyền hưởng di sản bị tranh chấp, vụ việc sẽ được đưa ra tòa án. Những điểm nóng thường gặp gồm bất đồng giữa người vợ hoặc chồng còn sống với con riêng từ cuộc hôn nhân trước, tranh chấp về việc ai đủ tư cách là người thừa kế, và tài sản không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu rõ ràng. Tố tụng dân sự Việt Nam nhìn chung yêu cầu hòa giải trước khi tranh chấp được đưa ra xét xử.
Có những thời hiệu đáng lưu ý. Yêu cầu chia di sản thừa kế nhìn chung phải được đưa ra trong thời hạn 30 năm đối với bất động sản như đất đai và nhà ở, và 10 năm đối với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế, tức thời điểm người để lại di sản qua đời.
Gia đình có yếu tố nước ngoài và di sản xuyên biên giới
Khi người để lại di sản hoặc những người thừa kế là người nước ngoài, hoặc khi tài sản nằm ở nhiều quốc gia, thừa kế theo pháp luật trở nên phức tạp hơn đáng kể. Quan hệ nhân thân có thể cần được xác lập chính thức và giấy tờ cần được hợp pháp hóa lãnh sự. Người thừa kế là người nước ngoài vẫn có thể hưởng di sản, nhưng các hạn chế về quyền sở hữu đất đai đối với người nước ngoài đồng nghĩa với việc đôi khi họ không thể đứng tên một số bất động sản mà thay vào đó nhận giá trị tương ứng. Và khi người đã mất có tài sản ở nhiều quốc gia, nhiều hệ thống pháp luật có thể cùng được áp dụng, kéo theo khả năng xung đột về việc ai được hưởng và hưởng bao nhiêu.
Cách đơn giản nhất để tránh tất cả những điều này
Tất cả những nội dung trên mô tả điều xảy ra khi pháp luật quyết định thay cho cá nhân. Với nhiều người, thứ tự hàng thừa kế mặc định không phản ánh điều họ thực sự mong muốn, có thể vì nó dành một phần cho cha mẹ thay vì tập trung di sản cho vợ hoặc chồng và các con, vì nó không dự liệu cho người bạn đời chưa đăng ký kết hôn hay đứa con riêng của vợ hoặc chồng vốn không có quyền thừa kế theo pháp luật, hoặc đơn giản vì nó dễ dẫn tới tranh chấp giữa những người thân vào đúng thời điểm tồi tệ nhất.
Một bản di chúc hợp pháp thay đổi điều đó. Di chúc cho phép một người định đoạt di sản của mình sẽ thuộc về ai, thay vì để mặc cho thứ tự hàng thừa kế mặc định. Tuy nhiên, có một giới hạn quan trọng cần hiểu, vì nó khiến những người vẫn nghĩ di chúc trao cho mình toàn quyền phải bất ngờ.
Pháp luật Việt Nam bảo vệ một số thành viên gia đình dễ bị tổn thương ngay cả khi di chúc thể hiện ý chí khác. Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự, con chưa thành niên của người để lại di sản, cùng với vợ hoặc chồng, cha mẹ, và con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, được hưởng phần di sản bằng ít nhất hai phần ba suất mà họ sẽ nhận nếu di sản được chia theo pháp luật, kể cả khi di chúc không cho họ gì hoặc cho ít hơn mức đó. Nhóm này đôi khi được gọi là những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Như vậy, di chúc cho một người quyền tự do thực sự trong việc định đoạt di sản, nhưng không cho quyền để lại một đứa con phụ thuộc hay một người bạn đời ốm yếu với hai bàn tay trắng.
Trong giới hạn đó, di chúc cho phép quý vị dự liệu cho những người mà thứ tự thừa kế theo pháp luật hoàn toàn bỏ qua, chẳng hạn người bạn đời chưa đăng ký kết hôn hoặc con riêng của vợ hoặc chồng, giữ cho cha mẹ không nhận phần mà quý vị muốn dành cho vợ hoặc chồng và các con, chỉ định người quản lý di sản, và giúp gia đình tránh được sự bất định cùng nguy cơ mâu thuẫn khi di sản phải chia theo pháp luật. Lập di chúc đơn giản hơn nhiều so với những gì một gia đình phải trải qua khi không có di chúc nào để tuân theo.
Trao đổi với luật sư về thừa kế của chúng tôi
Dù quý vị đang giải quyết di sản của một người thân không để lại di chúc, hay muốn bảo đảm di sản của chính mình không bị chia theo mặc định, các luật sư về lập di chúc và hoạch định di sản của chúng tôi có thể hỗ trợ. Chúng tôi tư vấn cho các gia đình về việc xác lập và phân chia di sản thừa kế theo pháp luật, đồng thời soạn thảo những bản di chúc có giá trị pháp lý vững chắc và phản ánh đúng ý nguyện của quý vị. Quý vị có thể liên hệ chúng tôi qua địa chỉ [email protected].